Douglas DC-3 là máy bay chở khách hai động cơ cánh quạt của Mỹ, bay lần đầu ngày 17/12/1935, được xem là chiếc máy bay đầu tiên giúp hãng hàng không có lãi chỉ nhờ bán vé hành khách. Với 21 đến 32 ghế và độ bền gần như huyền thoại, nó trở thành máy bay chở khách phổ biến nhất cuối thập niên 1930. Tính cả các phiên bản quân sự và bản sản xuất theo giấy phép, hơn 16.000 chiếc đã ra đời, và gần chín mươi năm sau vẫn còn chiếc đang bay.
Hàng không trước DC-3: ồn, lạnh và lỗ
Đầu thập niên 1930, đi máy bay ở Mỹ là chuyện của người can đảm và có tiền. Máy bay chở khách phần lớn có khung gỗ hoặc ống thép bọc vải, như chiếc Ford Trimotor ba động cơ. Khoang khách ồn đến mức phải hét mới nghe nhau, lạnh, rung, và say máy bay là chuyện thường. Một chuyến từ bờ Đông sang bờ Tây có thể mất hơn một ngày, ghép giữa máy bay ban ngày và tàu hoả ban đêm.
Về tiền, các hãng sống chủ yếu nhờ hợp đồng chở thư của bưu điện liên bang. Hành khách chỉ là phần phụ. Một chiếc máy bay chở chục người không thể bán đủ vé để trả chi phí.
Từ DC-1, DC-2 đến DC-3
Năm 1933, Boeing cho ra chiếc 247, máy bay chở khách hiện đại đầu tiên: toàn kim loại, cánh đơn, càng thu vào được. Nhưng United Airlines, hãng cùng tập đoàn với Boeing thời đó, đặt mua hết những chiếc đầu tiên. Hãng TWA không mua được, liền viết thư mời các nhà sản xuất khác làm một máy bay tốt hơn.
Douglas Aircraft ở California nhận lời. Kết quả là DC-1 (bay lần đầu tháng 7/1933, chỉ làm một chiếc), rồi bản sản xuất DC-2 năm 1934. DC-2 nổi tiếng khi chiếc "Uiver" của hãng KLM về nhì chung cuộc trong cuộc đua MacRobertson từ London tới Melbourne năm 1934, dù chở cả hành khách và thư, chỉ thua một máy bay đua chuyên dụng.
Sau đó, C. R. Smith, chủ tịch American Airlines, gọi điện cho Donald Douglas đề nghị một bản DC-2 rộng hơn, có giường nằm cho chuyến bay đêm xuyên nước Mỹ. Douglas ban đầu không mặn mà, nhưng American cam kết mua. Chiếc Douglas Sleeper Transport (DST) bay lần đầu ngày 17/12/1935, đúng 32 năm sau chuyến bay của anh em Wright. Bản ban ngày, bỏ giường thay bằng 21 ghế, chính là DC-3.
Điều gì khiến DC-3 khác biệt
DC-3 không phát minh ra công nghệ nào hoàn toàn mới. Sức mạnh của nó là gom đúng những công nghệ tốt nhất của thời đó vào một khung máy bay vừa đủ lớn.
- Thân và cánh toàn kim loại. Vỏ nhôm chịu lực (kiểu monocoque) và cánh có nhiều dầm, dựa trên ý tưởng của kỹ sư Jack Northrop. Cánh rất khoẻ, chịu được tải lớn và mỏi kim loại tốt, một lý do khiến DC-3 sống lâu như vậy.
- Động cơ hướng tâm làm mát bằng gió. Hai động cơ piston xếp xi-lanh hình sao, loại Wright Cyclone 9 xi-lanh hoặc Pratt & Whitney Twin Wasp 14 xi-lanh, mỗi chiếc khoảng 1.000–1.200 mã lực.
- Cánh quạt biến bước cho phép đổi góc lá quạt, hiệu quả cả lúc cất cánh lẫn lúc bay hành trình.
- Cánh tà và càng thu vào được giúp hạ cánh chậm hơn trên đường băng ngắn và giảm cản khi bay.
- Khoang khách cách âm, có sưởi. Lần đầu tiên hành khách có thể nói chuyện bình thường trên máy bay.
DC-3 là loại máy bay "bánh đuôi": hai bánh chính dưới cánh và một bánh nhỏ ở đuôi. Khi đỗ, thân máy bay dốc về phía sau, khách phải đi lên một sàn nghiêng để vào ghế. Đây là cách nhận ra DC-3 dễ nhất.
Bài toán kinh tế đã được giải
Điều làm nên huyền thoại DC-3 là con số. Với 21 ghế thay vì 14 như DC-2, chi phí khai thác chỉ tăng chút ít. Lần đầu tiên, một hãng hàng không có thể có lãi chỉ nhờ vé hành khách, không cần trợ cấp thư. Giới sử hàng không hay trích một con số: đến cuối thập niên 1930, phần lớn hành khách đi máy bay thương mại trên thế giới đều bay trên DC-3.
Chuyến xuyên nước Mỹ từ New York tới Los Angeles giờ chỉ còn khoảng 15–17 giờ với ba lần dừng tiếp nhiên liệu, đi qua đêm và đến nơi vào buổi sáng. Hàng không bắt đầu trở thành một phương tiện đi lại, không còn là cuộc phiêu lưu.
Hơn 16.000 chiếc trên khắp thế giới
| Dòng | Nơi sản xuất | Số lượng (xấp xỉ) |
|---|---|---|
| DC-3 và DST dân dụng | Douglas, Mỹ | khoảng 600 |
| Các bản quân sự (C-47 và các biến thể) | Douglas, Mỹ | hơn 10.000 |
| Lisunov Li-2 | Liên Xô, sản xuất theo giấy phép | khoảng 4.900 |
| Showa/Nakajima L2D | Nhật Bản, sản xuất theo giấy phép | gần 500 |
Phần lớn số máy bay này được làm cho nhu cầu vận tải thời chiến đầu thập niên 1940. Khi chiến tranh kết thúc, hàng nghìn chiếc thừa được bán lại giá rẻ cho các hãng dân dụng. Rất nhiều hãng hàng không ở châu Âu, châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh khởi nghiệp sau năm 1945 bằng chính những chiếc máy bay này. DC-3 vì vậy là máy bay đã dựng nên nền hàng không dân dụng của nhiều quốc gia.
DC-3 và hàng không ở Việt Nam
Dòng máy bay này cũng có mặt trong những trang đầu của hàng không dân dụng Việt Nam. Hãng Air Vietnam, thành lập năm 1951, khai thác máy bay DC-3 cho các đường bay nội địa và khu vực trong những năm đầu. Ở miền Bắc, khi Cục Hàng không dân dụng Việt Nam ra đời ngày 15/01/1956, đội máy bay ban đầu có những chiếc Li-2, chính là anh em sản xuất theo giấy phép của DC-3, cùng các máy bay Il-14 và Aero 45. Ngày 15/01 về sau được Vietnam Airlines chọn làm ngày truyền thống.
Với đường băng ngắn, nhiều sân bay còn là đất nện, khí hậu nóng ẩm, một máy bay chắc chắn và dễ bảo dưỡng như DC-3 hay Li-2 là lựa chọn hợp lý cho nhiều nước châu Á thời kỳ đó.
Vẫn bay sau gần một thế kỷ
Trong giới phi công có câu nói truyền miệng, không rõ ai nói đầu tiên: "Thứ duy nhất thay được DC-3 là một chiếc DC-3 khác." Câu đùa ấy gần đúng sự thật. Hàng chục năm sau khi ngừng sản xuất, DC-3 vẫn bay chở hàng, chở khách du lịch, phun thuốc, chữa cháy, chở người nhảy dù.
Một số công ty còn "hồi sinh" khung máy bay cũ bằng cách thay động cơ piston bằng động cơ tua-bin cánh quạt hiện đại và kéo dài thân. Phiên bản Basler BT-67 là ví dụ nổi tiếng nhất, được dùng nhiều ở châu Nam Cực và Bắc Cực để chở nhà nghiên cứu và hàng tiếp tế, hạ cánh bằng ván trượt trên tuyết. Bên trong là bộ khung có tuổi đời bảy, tám chục năm, nhưng vẫn tin cậy được ở những nơi khắc nghiệt nhất hành tinh.
Ở nhiều nước, các hội người yêu máy bay giữ những chiếc DC-3 bay trình diễn và chở khách tham quan ngắn. Ngồi trên một chiếc như vậy, khách nghe rõ tiếng động cơ piston nổ đều và cảm nhận được sàn khoang chuyển từ dốc sang phẳng khi đuôi máy bay nhấc lên giữa lúc chạy đà.
Góc nhìn hôm nay: ngắm và hiểu DC-3
DC-3 dạy một điều mà nhiều thiết kế đột phá sau này quên: máy bay thành công là máy bay giúp hãng có lãi, phi công tin tưởng, thợ máy dễ sửa. Concorde và A380 xuất sắc hơn về kỹ thuật, nhưng không chiếc nào thay đổi ngành hàng không nhiều như DC-3.
Muốn xem DC-3 tận mắt: Bảo tàng Hàng không và Vũ trụ Quốc gia của Smithsonian ở Washington treo một chiếc DC-3 từng bay cho Eastern Air Lines; nhiều bảo tàng ở châu Âu và Úc có DC-3 trưng bày, có nơi còn bay được. Khi đứng gần, hãy để ý: bánh đuôi nhỏ, hai động cơ tròn lớn với nắp che hình vành khuyên, cánh vuốt nhọn về đầu và sàn khoang dốc ngược về sau. Muốn đọc thêm, những sách lịch sử hàng không dân dụng Mỹ thập niên 1930 thường dành nhiều trang cho cuộc cạnh tranh giữa Boeing 247 và các máy bay của Douglas.
Câu hỏi thường gặp
Douglas DC-3 ra đời năm nào?
Phiên bản đầu tiên của dòng DC-3 là chiếc Douglas Sleeper Transport có giường nằm, bay lần đầu ngày 17/12/1935. Bản chở khách ban ngày DC-3 vào khai thác với American Airlines năm 1936. Máy bay được phát triển từ DC-2 theo đề nghị của hãng này.
Vì sao DC-3 nổi tiếng?
DC-3 là máy bay đầu tiên giúp hãng hàng không có lãi chỉ nhờ chở hành khách, không cần hợp đồng chở thư. Nó bền, dễ bảo dưỡng, hạ cánh được trên đường băng ngắn và được sản xuất với số lượng rất lớn. Nhiều hãng hàng không trên thế giới khởi nghiệp bằng DC-3 sau năm 1945.
Li-2 có phải là DC-3 không?
Li-2 là máy bay Liên Xô sản xuất theo giấy phép của DC-3, có nhiều sửa đổi về động cơ và kết cấu cho phù hợp với tiêu chuẩn trong nước. Khoảng 4.900 chiếc được chế tạo. Li-2 có trong đội bay đầu tiên của hàng không dân dụng Việt Nam năm 1956.
DC-3 còn bay không?
Còn. Vẫn có những chiếc DC-3 bay chở hàng, chở khách tham quan và bay trình diễn ở nhiều nước. Một số được cải tạo với động cơ tua-bin cánh quạt, như phiên bản Basler BT-67, dùng nhiều trong các chuyến bay phục vụ nghiên cứu ở vùng cực.
DC-3 chở được bao nhiêu khách?
Bản DC-3 tiêu chuẩn chở 21 khách, xếp ba ghế mỗi hàng. Sau này nhiều hãng xếp dày hơn, tới 28–32 ghế. Bản giường nằm DST có 14 giường cho chuyến bay đêm.